PV: Nhiều tháng qua, giá xăng dầu đã góp phần kìm đà tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thông qua nhóm giao thông, song gần đây lại biến động mạnh theo xu hướng thế giới. Nếu điều này tiếp diễn, theo ông, tác động tới lạm phát trong nước sẽ ở mức độ nào?

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước
TS. Nguyễn Trí Hiếu

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Giá bán lẻ xăng RON95 và dầu diesel đã tăng mạnh, vượt mốc 30.000 đồng/lít từ đêm 19/3, chịu tác động kép từ đà leo thang của giá dầu thế giới lên trên 100 USD/thùng và căng thẳng địa chính trị. Lạm phát trong nước có dấu hiệu chịu thêm sức ép, bởi khi giá xăng dầu tăng, hầu hết các loại hàng hóa đều có xu hướng tăng giá.

Không chỉ người dân phải đổ xăng phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày, mà tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh đều phụ thuộc vào năng lượng. Từ điện năng, hoạt động của các cơ sở sản xuất, cho tới các doanh nghiệp vận tải... đều chịu ảnh hưởng.

Vì vậy, khi giá năng lượng tăng, tác động sẽ lan tỏa vào mọi ngõ ngách của nền kinh tế, từ đó, đẩy mặt bằng giá hàng hóa đi lên. Với giá xăng dầu, khi đánh giá tác động đến lạm phát, chúng ta không chỉ nhìn vào tỷ trọng của xăng dầu trong rổ tính CPI để xem mức độ ảnh hưởng. Quan trọng hơn, phải tính đến tác động lan tỏa của giá xăng dầu tới toàn bộ mặt bằng giá cả trong nền kinh tế.

Nếu giá dầu trên thế giới tăng lên các mức: 110 USD/thùng, 120 USD/thùng hay thậm chí 150 USD/thùng, thì tác động với nền kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng sẽ rất mạnh trên nhiều phương diện.

PV: Bên cạnh tác động của giá xăng dầu lên mặt bằng giá cả, căng thẳng địa chính trị cũng tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá. Đó là chưa kể, theo số liệu của Cục Thống kê, 3 tháng liên tiếp Việt Nam ghi nhận nhập siêu khoảng 3,5 tỷ USD - diễn biến khá hiếm trong nhiều năm gần đây. Sự cộng hưởng này tạo thêm thách thức gì khi kiểm soát lạm phát, thưa ông?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Bên cạnh tác động của giá xăng dầu với mặt bằng giá hàng hóa, tỷ giá cũng là một yếu tố rất quan trọng, do Việt Nam là nền kinh tế nhập khẩu nhiều, để phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu.

Những tháng đầu năm 2026, Việt Nam đang ghi nhận nhập siêu, dù nếu tính cả năm thì khả năng vẫn xuất siêu. Tuy nhiên, cần lưu ý, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu.

Khi nhập khẩu, doanh nghiệp phải dùng ngoại tệ để thanh toán. Nếu tỷ giá tăng, cùng một lượng hàng nhập khẩu sẽ phải trả nhiều tiền VND hơn, khiến giá hàng nhập khẩu tăng, đồng nghĩa chúng ta cũng "nhập khẩu lạm phát" từ bên ngoài. Cùng với đó, tạo hiệu ứng dây chuyền lên rổ hàng hóa tiêu dùng và sản xuất trong nước, gia tăng áp lực lạm phát.

Như vậy, không chỉ mặt bằng giá trong nước tăng do tác động của giá xăng dầu, mà còn có một "cú hích" thứ hai từ yếu tố tỷ giá.

Hiện USD vẫn giữ vị thế số một toàn cầu, gắn với nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dù thấp hơn đáng kể so với năm ngoái, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - vẫn duy trì trên ngưỡng 100 điểm, vốn được xem là mức mạnh.

Do đó, nhiều người kỳ vọng xung đột tại Trung Đông có thể sớm được giải quyết, đặc biệt để hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz ổn định trở lại. Trong trường hợp xung đột kéo dài, nguy cơ lạm phát trong năm nay có thể tăng mạnh, không chỉ đối với một số quốc gia, mà đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới.

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước
Áp lực tỷ giá gia tăng đang đặt thêm gánh nặng lên mặt bằng lãi suất. Ảnh: An Thư

PV: Bối cảnh điều hành tỷ giá năm nay được cho là khá thách thức do nhiều lực đẩy từ bên ngoài, đặc biệt là những biến động khó lường từ xung đột Trung Đông, nhưng mặt bằng lãi suất trong nước đang nhích lên so với năm 2025. Liệu việc duy trì lãi suất cao hơn sẽ góp phần giúp tỷ giá ổn định hơn, thưa ông?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Có hai tác động theo hai chiều ngược nhau khi duy trì mặt bằng lãi suất cao hơn. Trước hết, lãi suất tăng dĩ nhiên sẽ góp phần làm chậm đà tăng của tỷ giá. Khi lãi suất VND tăng, giá trị của VND cũng tăng lên khi so sánh với đồng USD, điều này sẽ giảm bớt áp lực tăng của tỷ giá. Đây là một tín hiệu tích cực, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi tỷ giá có thể chịu thêm nhiều lực đẩy khác từ giá xăng dầu tăng và áp lực lạm phát trên thế giới.

Độ mở kinh tế lớn, giữ lạm phát trong tầm kiểm soát không dễ

TS. Nguyễn Trí Hiếu phân tích, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào ngoại thương. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện đã gần gấp đôi GDP. Vì thế, những biến động về ngoại thương và giá cả trên thế giới sẽ tác động rất mạnh đến kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh năm nay có những biến động đáng kể về cả tỷ giá lẫn giá xăng dầu, việc duy trì lạm phát trong khoảng 4,5 - 5% sẽ là một thách thức với công tác điều hành kinh tế vĩ mô.

Dù vậy, việc lãi suất huy động tăng thường kéo theo lãi suất cho vay tăng. Hơn nữa, điều này cũng phản ánh định hướng chính sách của Ngân hàng Nhà nước trong năm nay, khi cơ quan điều hành đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2025 (khoảng 19%).

Khi tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại, các ngân hàng sẽ thận trọng hơn trong hoạt động cho vay, lựa chọn khách hàng tốt, thay vì mở rộng tín dụng như trước. Điều này nhìn chung có lợi cho sự ổn định của hệ thống tiền tệ và hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, lãi suất tăng lại không phải là điều thuận lợi cho nền kinh tế, khi gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường phụ thuộc nhiều vào vốn vay. Khi lãi suất cho vay tăng, chi phí tài chính của doanh nghiệp sẽ tăng lên, từ đó, tạo ra gánh nặng lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

PV: Trong bối cảnh áp lực tỷ giá gia tăng và nhiều yếu tố cùng tác động, ông đánh giá như thế nào về bài toán điều hành chính sách tiền tệ trong việc cân bằng giữa các mục tiêu?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Điều hành năm nay không còn là câu chuyện chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà là cân bằng giữa nhiều biến số, ưu tiên ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và không để tỷ giá biến động quá mạnh. Trong bối cảnh sức ép tỷ giá đang lớn hơn, khả năng giảm lãi suất cho vay trong năm nay là khá khó.

Năm 2025, khi tăng trưởng tín dụng lên tới khoảng 19%, tăng trưởng GDP đạt 8,02%. Còn năm nay, mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 10%, đồng nghĩa nền kinh tế cần một lượng vốn lớn hơn để hỗ trợ tăng trưởng.

Trong khi nhu cầu vốn lớn như vậy, tăng trưởng tín dụng lại bị giới hạn ở mức thấp hơn năm trước, các ngân hàng có xu hướng tăng lãi suất để bù đắp cho phần doanh thu từ lãi vay bị hụt đi vì hoạt động tín dụng thu hẹp. Điều này có thể khiến chi phí vốn cho doanh nghiệp vay vốn tăng lên.

Áp lực tỷ giá gia tăng đang đặt thêm gánh nặng lên mặt bằng lãi suất, khiến xu hướng tăng có thể rõ nét hơn trong năm nay. Điểm bất lợi trong năm nay là mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng.

PV: Xin cảm ơn ông!