PV: Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước nhấn mạnh vai trò chủ đạo, dẫn dắt và tiên phong của kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực then chốt, nhằm hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ góc nhìn quốc tế, theo ông, kinh tế nhà nước tại Việt Nam nên tập trung vào những lĩnh vực nào để vừa phát huy vai trò dẫn dắt, vừa tránh tình trạng dàn trải?
![]() |
| GS.TS Andreas Stoffers |
GS.TS Andreas Stoffers: Theo quan điểm của tôi, kinh tế nhà nước nên tập trung ưu tiên một số lĩnh vực chiến lược có giới hạn, tức là những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không đủ động lực hoặc không thể tự đầu tư đầy đủ vì vốn lớn, thời gian thu hồi dài, rủi ro cao hoặc lợi ích xã hội vượt xa lợi ích thương mại thuần túy. Cụ thể là: hệ thống năng lượng và hạ tầng lưới điện; các tuyến giao thông và logistics then chốt; một số cấu phần của hạ tầng số công cộng (như tiêu chuẩn, khả năng kết nối, nền tảng an ninh mạng); cũng như các nguồn dự trữ chiến lược và năng lực bảo đảm khả năng chống chịu của nền kinh tế vĩ mô.
Ngoài hạ tầng cốt lõi, kinh tế nhà nước có thể đóng vai trò “mở đường” thông qua các nền tảng thu hút đầu tư tư nhân như hạ tầng nghiên cứu - thử nghiệm, các chuẩn mực công nghệ và đặc biệt là các nền tảng phát triển nguồn nhân lực. Đây là lĩnh vực mà Việt Nam có thể tạo ra lợi thế quyết định.
Việt Nam cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tăng cường gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, hiện đại hóa chương trình đào tạo để kỹ năng lao động phù hợp với nhu cầu của nền sản xuất. Bên cạnh đó, trí tuệ nhân tạo cần được tích hợp vào đào tạo như một công cụ nâng cao năng suất. Người học cần được trang bị khả năng sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, biết đánh giá kết quả một cách phản biện và kết hợp công nghệ với phán đoán nghề nghiệp.
Đồng thời, cần tránh tình trạng dàn trải. Kinh tế nhà nước không nên mở rộng sang quá nhiều lĩnh vực kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước không nên chi phối các thị trường cạnh tranh, nơi khu vực tư nhân thường hoạt động hiệu quả hơn. Một nền kinh tế nhà nước hiện đại dẫn dắt bằng cách xây dựng nền tảng và hàng hóa công, chứ không phải bằng việc chiếm lĩnh mọi không gian thị trường.
![]() |
| Kinh tế nhà nước nên tập trung ưu tiên một số lĩnh vực chiến lược có giới hạn. Ảnh tư liệu |
PV: Ông có khuyến nghị gì để Việt Nam biến Nghị quyết số 79-NQ/TW thành động lực cải cách thực sự, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn?
GS.TS Andreas Stoffers: Để công cuộc cải cách của Việt Nam, đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW đạt được kết quả, cần xác định rõ nhiệm vụ và các mục tiêu có thể đo lường. Cần phân biệt rõ giữa các mục tiêu kinh tế và các nhiệm vụ công. Tất cả các chỉ số đánh giá cần được công khai, bảo đảm khả năng so sánh quốc tế, đồng thời sẵn sàng điều chỉnh khi thực tiễn cho thấy cần thiết.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng quản trị chuyên nghiệp, với các hội đồng giám sát mạnh, đại diện chủ sở hữu rõ ràng và các hợp đồng quản lý gắn với kết quả thực hiện. Minh bạch đóng vai trò then chốt; thiếu minh bạch sẽ mở đường cho kém hiệu quả.
| Nguyên tắc trung lập cạnh tranh là hết sức quan trọng GS.TS Andreas Stoffers nhấn mạnh, doanh nghiệp nhà nước không nên được hưởng những ưu thế ngầm. Nguyên tắc trung lập cạnh tranh là hết sức quan trọng: từ công bố thông tin minh bạch đến việc tiếp cận tín dụng có kỷ luật. Đây là những nguyên tắc nền tảng nếu kinh tế nhà nước muốn hỗ trợ thị trường thay vì làm méo mó thị trường. |
Nguyên tắc trung lập cạnh tranh phải được bảo vệ. Kỷ luật chi tiêu là điều thiết yếu và các khoản trợ cấp, nếu có, phải được công khai, minh bạch. Đầu tư nhà nước cần được xem xét kỹ lưỡng trên cơ sở phân tích chi phí - lợi ích và quản trị rủi ro một cách chuyên nghiệp.
Đối với các cơ chế thu hút đầu tư tư nhân, cần có khung hợp tác công - tư rõ ràng, hợp đồng chuẩn hóa và dễ hiểu, cùng với cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập, đáng tin cậy, nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh việc khu vực tư nhân bị thay thế đơn thuần bởi khu vực nhà nước.
Nguồn nhân lực và công nghệ mang tính quyết định. Hiện đại hóa cần song hành với đào tạo nghề theo hướng thực hành, các trường đại học gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất, chương trình đào tạo phản ánh đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Trí tuệ nhân tạo cần được tích hợp vào giáo dục - đào tạo như một công cụ nâng cao năng suất và năng lực phân tích, đồng thời củng cố tư duy phản biện và phán đoán nghề nghiệp. Điều này cũng đòi hỏi việc nâng cao kỹ năng liên tục cho đội ngũ kỹ thuật viên và quản lý trung cấp, bởi nhiều cải thiện năng suất đến từ việc hoàn thiện quy trình tại hiện trường sản xuất, chứ không chỉ từ thiết bị mới.
Thông điệp trung tâm của tôi là: năng lực cạnh tranh được hình thành từ năng lực thực chất và quản trị tốt, chứ không chỉ từ quy mô vốn nhà nước được đầu tư.
PV: Ông kỳ vọng gì từ Nghị quyết số 79-NQ/TW trong năm 2026 và xa hơn nữa?
GS.TS Andreas Stoffers: Tôi tin rằng, Nghị quyết số 79-NQ/TW có thể trở thành một đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam tiến xa hơn trên con đường trở thành quốc gia công nghiệp hóa vào năm 2045, nếu việc triển khai tương xứng với mục tiêu đề ra. Kinh tế nhà nước có thể củng cố các dịch vụ, hàng hóa công và nền tảng chiến lược, đồng thời dành không gian cho thị trường và sáng kiến của khu vực tư nhân.
Niềm tin này được xây dựng trên cơ sở các quy tắc ổn định và hành vi nhất quán. Thành công của Việt Nam kể từ năm 1986 đến nay bắt nguồn từ tính thực tiễn, sự cởi mở và khả năng học hỏi đáng kể. Nếu Nghị quyết số 79-NQ/TW được triển khai theo đúng tinh thần đó - tập trung, minh bạch và hướng tới kết quả - sẽ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời củng cố niềm tin của khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài.
Cuối cùng, giá trị của nghị quyết sẽ không được đo bằng lời tuyên bố, mà bằng chất lượng dịch vụ tốt hơn, tốc độ thực hiện nhanh hơn và một nền kinh tế nhà nước thực sự mở lối cho các chủ thể khác.
Nghị quyết số 79/NQ-TW không chỉ là một văn kiện định hướng, mà có thể trở thành “chất xúc tác” cho một chu kỳ cải cách mới, nơi Nhà nước, thị trường và khu vực tư nhân vận hành bổ trợ lẫn nhau. Đây chính là nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao một cách bền vững, nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đồng thời tạo dựng niềm tin dài hạn cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước.
PV: Xin cảm ơn ông!



